Đèn lưu ly nửa nước nửa dầu. Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc (II) Đêm đêm ngồi tựa bóng đèn. Đêm đêm vuốt bụng thở dài. Đêm hôm gió rét mưa phùn. Đêm khuya anh khẩy cái tam huyền. Đêm khuya anh nghe con nhạn kêu sương. Đêm khuya bấc hết dầu khô. Đêm khuya chẳng ngủ Cũng có những người đàn ông đi xe đạp cố đưa mắt thử nhìn vào bên trong cửa sổ lộng kính khép kín trong sương mù. Đây chẳng qua chỉ là một đêm khuya bình thường vào mùa đông. Phù Dung Trì , chương 85 của tác giả Hoa Ban cập nhật mới nhất, full prc pdf ebook, hỗ trợ xem trên thiết bị di động hoặc xem trực tuyến tại sstruyen.vn. Nguyên Hương ở đây không phải là nhà báo kỳ cựu nổi tiếng trong làng báo Việt của xứ lá Phong vùng Bắc mỹ. Nguyên Hương cũng không phải là cô thư ký xinh đẹp của Ông Hoàng, nên nàng lại càng không phải người thầm yêu trộm nhớ của chàng điệp viên tài ba Tống văn Bình trong tiểu thuyết gián điệp Z.28 nổi Người đàn ông ngồi trên một cái ghế thật thấp chắc là Chúa Giêsu. Hai người đàn bà kia -một đứng xa xa, một ngồi bệt dưới sàn, bên chân Chúa, tôi không biết là ai, nhưng không muốn lộ sở đoản của mình về tôn giáo, tôi không hỏi Hưng. Vay Tiền Trả Góp 24 Tháng. Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Vũ Thị Hậu - Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh - Khoa Chẩn đoán hình ảnh và Y học hạt nhân - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. Bác sĩ có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh bao gồm cộng hưởng từ, CLVT và siêu âm. Loãng xương là bệnh lý rối loạn cân bằng giữa hai quá trình hủy xương và tạo xương của cơ thể. Loãng xương xuất hiện ở mọi lứa tuổi với nhiều nguyên nhân khác nhau. Chụp X-quang sẽ giúp bác sĩ chẩn đoán chính xác hơn tình trạng của bệnh loãng xương. 1. Loãng xương là gì? Loãng xương là một trong những dạng thay đổi cấu trúc bất thường của hệ xương khớp. Loãng xương còn gọi là thưa xương, là hiện tượng giảm canxi của xương, thường gặp trong thưa xương ở người già, do bất động ổ gãy lâu ngày, giai đoạn đầu của lao xương khớp và cốt tủy viêm....Loãng xương xảy ra khi xương mất dần canxi, khiến xương bị xốp, yếu và trở nên giòn và dễ gãy hơn. Nhiều người thường chủ quan với bệnh loãng xương do bệnh diễn tiến chậm theo thời gian, tuổi tác. Đến khi người bệnh cảm thấy đau, nhức trong xương là bệnh đã trở nặng, lúc đó người bệnh mới khám và dùng thuốc điều trị thì khó có cơ hội phục hồi do hệ xương trong cơ thể đã bị hao mòn quá nhiều. Tình trạng loãng xương sẽ càng trở nặng hơn khi về già. Do độ tuổi này, mật độ xương không đảm bảo đủ mức cho phép để bảo đảm xương cứng chắc như lúc ở tuổi trưởng thành. 2. Nguyên nhân gây loãng xương Loãng xương là bệnh phổ biến ở giai đoạn trung và cao tuổi. Để phòng ngừa bệnh loãng xương cần tìm hiểu các nguyên nhân gây bệnh như sau Do di truyềnYếu tố di truyền là một trong những nguyên nhân của bệnh loãng xương thường gặp. Nếu trong gia đình của bạn có người bị loãng xương thì nguy cơ mắc bệnh loãng xương của bạn cao hơn người những người Do chế độ dinh dưỡng không hợp lýChế độ ăn uống không hợp lý, thiếu canxi, vitamin C, vitamin D là một trong các nguyên nhân gây bệnh loãng xương khi về canxi Cơ thể bạn cần một lượng canxi liên tục trong máu vì nhiều cơ quan, đặc biệt là tim, cơ bắp và dây thần kinh của bạn phụ thuộc vào canxi, khi các cơ quan này cần canxi, chúng sẽ tự động lấy canxi từ xương. Theo thời gian, lượng canxi bị hao hụt nhiều, nếu bạn không bổ sung đầy đủ sẽ cạn kiệt canxi, xương sẽ bị mỏng và vitamin D Quá ít vitamin D có thể dẫn đến xương yếu và có nguy cơ mất xương. Trong số rất nhiều lợi ích của vitamin D, nó giúp cơ thể bạn hấp thụ và sử dụng Do lối sống và thói quen không lành mạnhNgồi bất động trong thời gian dài, hút thuốc lá, nghiện rượu, cafe ...cũng làm gia tăng nguy cơ bị loãng xương. Đối với những người ít vận động hoặc có tình trạng như tê liệt hoặc loạn dưỡng cơ, mất xương sẽ nhanh chóng xảy thuốc Những người hút thuốc có mật độ xương thấp hơn và nguy cơ gãy xương cao hơn những người không hút thuốc. Tác dụng độc hại trực tiếp của nicotine lên các tế bào xương đến việc ngăn chặn khả năng sử dụng estrogen, canxi và vitamin D của cơ nhiều rượu Rượu có thể ức chế quá trình tu sửa xương và tăng mất canxi của bạn, từ đó dẫn đến loãng Do ảnh hưởng của quá trình điều trị các bệnh khácTheo nghiên cứu những người bị bệnh viêm gan B, nhiễm trùng gan, viêm khớp dạng thấp, cường tuyến phó giáp, cường giáp...có nguy cơ bị loãng xương cao hơn bình Do thường xuyên sử dụng một số các loại thuốcUống một số loại thuốc có thể dẫn đến loãng xương. Phổ biến nhất là corticosteroid, còn được gọi là cortisone, hydrocortisone, glucocorticoids và prednison . Những loại thuốc này được sử dụng để điều trị hen suyễn, viêm khớp dạng thấp, bệnh vẩy nến, viêm đại tràng và một loạt các tình trạng khác. Thuốc chống động kinh cũng liên quan đến mất Do thay đổi nội tiết tố cơ thểEstrogen thấp ở phụ nữ Tốc độ mất xương càng lớn sau khi mãn kinh, khi phụ nữ lớn tuổi giảm estrogen nhanh chóng. Theo thời gian, nguy cơ loãng xương và gãy xương tăng lên khi phụ nữ lớn tuổi mất nhiều xương hơn so với thay thế. Phụ nữ bị mãn kinh sớm cũng bị tổn thương mật độ thấp ở nam giới Đàn ông cần cả testosterone và estrogen cho sức khỏe của xương. Đó là bởi vì đàn ông chuyển đổi testosterone thành estrogen bảo tồn cân bằng nội tiết tố khác Hormon tuyến cận giáp và hormon tăng trưởng đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh mật độ xương của bạn. Chúng giúp điều phối canxi cho xương sử dụng và khi nào sẽ tích tụ và phá vỡ xương. Nhưng quá nhiều hormon tuyến cận giáp, được gọi là cường tuyến cận giáp, gây mất canxi. Hút thuốc lá, nghiện rượu, cafe ...cũng làm gia tăng nguy cơ bị loãng xương 3. Dấu hiệu loãng xương Những biểu hiện lâm sàng chỉ xuất hiện khi trọng lượng xương giảm trên 30%. Sự xuất hiện từ từ tự nhiên hoặc sau một chấn thương, đôi khi tình cờ chụp X quang mà sống giảm dần chiều cao, biến dạng đường cong sinh lý dẫn đến gù vùng lưng hay thắt lưng, chiều cao cơ thể giảm đi rõ rệt so với khi còn trẻ tuổi. Xương dễ gãy, đôi khi chỉ một chấn thương nhẹ cũng làm gãy cổ xương đùi, gãy đầu dưới xương quay, gãy lún đốt sống. Phim X-quang đánh giá loãng xương qua việc thể hiện trên màu sắc của xương giảm sáng hơn so với bình thường, xuất hiện trạng thái xương lún tại đốt sống. Chụp X-quang đánh giá mật độ xương dọc cột sống và thắt lưng, xương vùng đùi, vùng cổ tay, đánh giá lượng xương mất đi hoặc tỉ lệ xương đang bị bào chụp X-quang quy ước Hình ảnh đốt sống tăng thấu quang, biến dạng thân đốt sống gãy làm xẹp và lún các đốt sống, với các xương dài thường giảm độ dày vỏ xương khiến ống tủy rộng phim X-quang có thể phát hiện 2 hình thái loãng xương rõ ràngLoãng xương khu trú Điểm loãng xương tập trung ở một vùng nhìn thấy rõ ràng, tại vũng đó màu sắc xương bị giảm, còn các vùng xương khác vẫn đều màu và đồng bộ bình xương lan tỏa Thường gặp trong trường hợp bệnh nhân mắc bệnh tính chất hệ thống như rối loạn chuyển hóa cường cận giáp, thiếu chất, còi xương nhuyễn xương, người bất động lâu ngày, phụ nữ mãn hiện trên phim là màu sắc của xương giảm sáng đồng đều, bờ viền xương không rõ nét, giới hạn đường bờ mờ vì có nhiều ổ khuyết nhỏ ở xương. 5. Phòng ngừa loãng xương Tập thể dục thể thao thường xuyên sẽ kích thích sự hình thành xương và tăng trưởng cơ bắp Tập thể dục thể thao thường xuyên sẽ kích thích sự hình thành xương và tăng trưởng cơ bắpỞ Việt Nam, loãng xương là bệnh tật phổ biến đứng hàng thứ hai, chỉ sau bệnh tim mạch, ảnh hưởng đến 1/3 phụ nữ và 1/8 đàn ông trên 50 vì vậy, cần phải có biện pháp phòng ngừa loãng xương ngay từ khi còn khoẻ Chăm chỉ vận độngTập thể dục thể thao thường xuyên sẽ kích thích sự hình thành xương và tăng trưởng cơ bắp. Tuy nhiên, cần chọn cho mình những môn thể thao rèn luyện cơ thể phù hợp. Nếu không có thể khiến cơ thể bị tổn thương ngược Cung cấp đủ canxi và vitamin thiết yếuBổ sung vào thực đơn hàng ngày thực phẩm giàu canxi và vitamin sẽ giúp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh loãng Tắm nắng đúng cáchBằng tác dụng của ánh nắng mặt trời, tiền vitamin D dưới da sẽ hoạt hóa thành vitamin D3. Mỗi ngày chỉ nên phơi nắng 15 phút và vào khoảng 6 – 9 giờ Tránh xa chất kích thíchCafein có trong cafe làm tăng sự bài tiết của canxi qua đường tiết niệu. Thuốc lá và rượu sẽ kích thích quá trình mất xương. Vì vậy nên tránh xa chất kích Cẩn thận khi dùng thuốcCorticoid làm rối loạn sự đồng hóa canxi và cản trở hình thành mô xương. Vì vậy chỉ nên uống thuốc chứa corticoid khi có chỉ định của bác yếu đi nếu chúng không hoạt động hoặc không được bổ sung dinh dưỡng đúng cách. Phương pháp chụp X-quang có thể đánh giá mật độ xương mất đi để xác định chính xác tình trạng loãng xương trong cơ thể mà mắt thường không thấy được. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Gãy xương chậu bao lâu thì khỏi và đi lại được? Xét nghiệm mật độ xương là gì? Ai nên kiểm tra mật độ xương? Cảnh giác chấn thương đầu gối khi chạy bộ Trích Kinh Vu Lan và Báo Hiếu; Dịch giả HT. Thích Huệ Đăng; Nxb Tôn Giáo PHẬT NÓI KINH BÁO ĐÁP ĐỀN CÔNG ƠN CHA MẸ DIỄN NGHĨA Ta từng nghe lời tạc như vầy Một thuở nọ Thế Tôn an trụ, Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung, Chư Tăng câu hội rất đông, Tính ra đến số hai muôn tám ngàn Lại cũng có các hàng Bồ Tát, Hội tại đây đủ mặt thường thường, Bấy giờ, Phật lại lên đường, Cúng hàng đại chúng Nam phương tiến hành. Đáo bán lộ đành rành mắt thấy, Núi xương khô bỏ đấy lâu đời, Thế Tôn bèn vội đến nơi, Lạy liền ba lạy, rồi rơi giọt hồng. Đức A Nan trong lòng ái ngại, Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương, Vội vàng xin Phật dạy tường “…Thầy là Từ Phụ ba phương bốn loài. Ai ai cúng kính Thầy dường ấy, Cớ sao Thầy lại lạy xương khô?” Phật rằng trong các môn đồ, Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công. Bởi chưa biết đục trong chưa rõ, Nên vì ngươi Ta tỏ đuôi đầu Đống xương dồn dập bấy lâu, Cho nên trong đó biết bao cốt hài. Chắc cũng có ông bà cha mẹ, Hoặc thân ta, hoặc kẻ ta sanh, Luân hồi sanh tử, tử sanh, Lục thân đời trước, thi hài còn đây. Ta lễ bái kính người tiền bối, Và ngậm ngùi vì nhớ kiếp xưa. Đống xương hỗn tạp chẳng vừa, Không không trai gái bỏ bừa khó coi. Ngươi chịu khó xét soi cho kỹ, Phân làm hai bên nữ, bên nam, Để cho phân biệt cốt phàm, Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng. Đức A Nan trong lòng tha thiết, Biết làm sao phân biệt khỏi sai, Ngài bèn xin Phật chỉ bày, Vì khó chọn lựa gái trai lúc này. Còn sanh tiền dễ bề sắp đặt, Cách đứng đi ăn mặc phân minh, Chớ khi rã xác tiêu hình, Xương ai như nấy, khó nhìn khó phân. Phật mới bảo A Nan nên biết, Xương nữ nam phân biệt rõ ràng, Đàn ông xương trắng nặng quằn, Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn. Ngươi có biết cớ sao đen nhẹ? Bởi đàn bà sanh đẻ mà ra, Sanh con ba đấu huyết ra, Tám hộc bốn đấu sữa hòa nuôi con. Vì cớ ấy hao mòn thân thể, Xương đàn bà, đen nhẹ hơn trai. A Nan nghe vậy bi ai, Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sanh. Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo, Phương pháp nào báo hiếu song thân? Thế Tôn mới bảo lời rằng Vì ngươi Ta sẽ phân trần khá nghe Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc, Sanh đặng con thập ngoạt cưu mang, Tháng đầu, thai đậu tợ sương, Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường. Tháng thứ nhì dường như sữa đặc. Tháng thứ ba như cục huyết ngưng. Bốn tháng đã tượng ra hình. Năm tháng ngũ thể 1 hiện sinh rõ ràng. Tháng thứ sáu lục căn 2 đều đủ, Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương, Lại thêm đủ lỗ chân lông, Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn. Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ. Chín tháng thì đầy đủ vóc hình. Mười tháng là đến kỳ sinh. Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn. Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu. Nó vẫy vùng đạp quấu lung tung, Làm cho cha mẹ hãi hùng, Sự đau, sự khổ không cùng tỏ phân. Sinh sanh đặn muôn phần khoái lạc, Cũng ví như được bạc được vàng. Thế Tôn lại bảo A Nan Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin. Điều thứ nhứt giữ gìn thai giáo, Mười tháng trường chu đáo mọi bề. Thứ hai sanh đẻ gớm ghê, Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần. Điều thứ ba, thâm ân nuôi dưỡng, Cực đến đâu, bền vững chẳng lay. Thứ tư ăn đắng nuốt cay, Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con Điều thứ năm lại còn khi ngủ, Ướt mẹ nằm khô ráo phần con. Thứ sáu sú nước nhai cơm, Miễn con no ấm chẳng nhờm, chẳng ghê. Điều thứ bảy không chê ô uế, Giặt đồ dơ của trẻ không phiền. Thứ tám chẳng nỡ chia riêng, Nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo Điều thứ chín miễn con sung sướng, Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam, Tính sao có lợi thì làm, Chẳng màng tội lỗi, bị giam bị cầm. Điều thứ mười chẳng ham trau chuốt, Dành cho con các cuộc thanh nhàn, Thương con như ngọc như vàng, Ơn cha nghĩa mẹ, sánh bằng Thái Sơn. Phật lại bảo A Nan nên biết Trong chúng sanh tuy thiệt phẩm người, Mười phần mê muội cả mười, Không tường ơn trọng đức dày song thân. Chẳng kính mến, quên ân, trái đức, Không xót thương dưỡng dục cù lao, Ấy là bất hiếu mặc giao, Thì những người ấy đời nào nên thân. Mẹ sanh con cưu mang mười tháng, Cực khổ dường gánh nặng trên vai, Uống ăn chẳng đặng vì thai. Cho nên thân thể hình hài kém suy. Khi sanh sản hiểm nguy chi xiết, Sanh đặng rồi tinh huyết dầm dề, Ví như thọc huyết trâu dê, Nhứt sanh thập tử nhiều bề gian nan. Con còn nhỏ phải lo chăm sóc, Ăn đắng cay, bùi ngọt phần con, Phải tắm, phải giặt, rửa trôn, Biết rằng dơ dáy mẹ không ngại gì. Nằm phía ướt, con nằm phía ráo, Sợ cho con ướt áo, ướt chăn, Hoặc khi ghẻ chóc khắp thân, Ắt con phải chịu trăm phần thảm thương. Trọn ba năm bú nương sữa mẹ, Thân gầy mòn nào nệ với con, Đến khi vừa được lớn khôn, Mẹ cha dạy bảo cho con vỡ lòng, Cho con đi học mở thông trí tuệ, Dựng vợ chồng có thể làm ăn, Ước mong con được nên thân, Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi. Con đau ốm tức thì lo chạy, Dầu tốn hao cách mấy cũng đành, Khi con căn bệnh đặng lành, Thì cha mẹ mới an thần định tâm. Công dưỡng dục sánh bằng non biển, Cớ sao con chẳng biết ơn này! Hoặc khi lầm lỗi bị rầy, Chẳng tuân thì chớ lại bày ngỗ ngang. Hỗn cha mẹ phùng mang trợn mắt, Khinh trưởng huynh nộ nạt thê nhi, Bà con chẳng kể ra chi, Không tuân Sư Phụ lễ nghi chẳng tường. Lời dạy bảo song đường không kể, Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng. Trái ngang chốn báng mọi đàng, Ra vào lui tới mắng càng người trên. Vì lỗ mãng tánh quen làm bướng Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn, Lớn lên theo lối hung hăng, Đã không nhẫn nhịn lại càng hành hung. Bỏ bạn lành theo cùng chúng dữ, Nếu tập quen làm sự trái ngang, Nghe lời dụ dỗ quân hoang, Bỏ cha bỏ mẹ trốn sang quê người Trước còn tập theo thời theo thế, Thân lập thân tìm kế sinh nhai, Hoặc đi buôn bán kiếm lời, Hoặc vào quân lính với đời lập công. Vì ràng buộc đồng công, mối nợ, Hoặc trở ngăn vì vợ vì con, Quên cha quên mẹ tình thâm, Quên xứ quên sở lâu năm không về. Ấy là nói những người có chí, Chứ phần nhiều du hý mà thôi, Sau khi phá hết của rồi, Phải tìm phương kế kiếm đôi đồng xài. Theo trộm cướp, hoặc là bài bạc, Phạm tội hình, tù ngục phải vương, Hoặc khi mang bệnh giữa đường, Không người nuôi dưỡng bỏ thân ngoài đồng. Hay tin dữ, bà con cô bác, Cùng mẹ cha xao xác buồn rầu, Thương con than khóc ưu sầu, Có khi mang bệnh đui mù vấn vương. Hoặc bệnh nặng vì thương quá lẽ, Phải bỏ mình làm quỷ giữ hồn, Hoặc nghe con chẳng lo lường, Trà đình, tửu điếm, phố phường ngao du. Cứ mài miệt với đồ bất chánh, Chẳng mấy khi thần tỉnh mộ khang, Làm cho cha mẹ than van, Sanh con bất hiếu phải mang tiếng đời. Hoặc cha mẹ đến hồi già yếu, Không ai nuôi thiếu thốn mọi điều, Ốm đau đói rách kêu rêu, Con không cấp dưỡng bỏ liều chẳng thương. Phận con gái còn nương cha mẹ, Thì có lòng hiếu đễ thuận hòa, Cần lao phục dịch trong nhà, Dễ sai dễ khiến hơn là nam nhi. Song đến lúc tòng phu xuất giá, Lo bên chồng chẳng sá bên mình, Trước còn lai vãng viếng thăm, Lần lần nguội lạnh biệt tăm biệt nhà. Quên dưỡng dục song thân ơn trọng, Không nhớ công mang nặng đẻ đau, Chăng lo báo bổ cù lao, Làm cho cha mẹ buồn rầu thảm thay. Nếu cha mẹ rầy la quở mắng, Trở sanh lòng hờn giận chẳng kiêng, Chớ chi chồng đánh liên miên, Thì cam lòng chịu chẳng phiền chẳng than. Tội bất hiếu lưỡng ban nam nữ, Nói không cùng nghiệp dữ phải mang, Nghe Phật chỉ rõ mọi đàng, Trong hàng đại chúng lòng càng thảm thay! Gieo xuống đất, lấy cây lấy củi, Đập vào mình, vào mũi, vào hông, Làm cho các lỗ chân lông, Thảy đều rướm máu, ướt đầm cả thân. Đến hôn mê tâm thần bất định, Một giây lâu mới tỉnh than rằng Bọn ta quả thiệt tội nhơn, Xưa nay chẳng rõ không hơn người mù. Nay tỏ ngộ biết bao lầm lạc, Ruột gan dường như nát như tan, Tội tình khó nỗi than van, Làm sao trả đặng muôn ngàn ơn sâu. Trước Phật tiền ai cầu trần tố, Xin Thế Tôn mẫn cố bi lân, Làm sao báo đáp thù ân, Tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình. Phật bèn dụng Phạm thinh sáu món, Phân rõ cùng Đại chúng lắng nghe, Ơn cha nghĩa mẹ nặng nề, Không phương báo đáp cho vừa sức đâu. Ví có người ơn sâu dốc trả, Cõng cha mẹ tất cả hai vai. Giáp vòng hòn núi Tu Di, Đến trăm ngàn kiếp ơn kia chưa đền. Ví có người gặp cơn đói rét, Nuôi song thân dâng hết thân này, Xương nghiền thịt nát phân thây, Trải trăm ngàn kiếp ơn đây chưa đồng. Ví có người vì công sanh dưỡng, Tự tay mình khoét thủng song ngươi, Chịu thân mù tối như vầy, Đến trăm ngàn kiếp ơn này thấm đâu. Ví có người cầm dao thật bén, Mổ bụng ra, rút hết tâm can, Huyết ra khắp đất chẳng than, Đến trăm ngàn kiếp thâm ân đâu bằng. Ví có người dùng ngàn mũi nhọn, Đâm vào mình bất luận chỗ nào, Tuy là sự khó biết bao, Trải trăm ngàn kiếp không sao đáp đền. Ví có người vì ơn dưỡng dục, Tự treo mình cúng Phật thế đèn, Cứ treo như vậy trọn năm, Trải trăm ngàn kiếp ân thâm chưa đền. Ví có người xương nghiền ra mỡ, Hoặc dùng dao chặt bửa thân mình, Xương tan thịt nát chẳng phiền, Đến trăm ngàn kiếp ơn trên chưa đồng. Ví có người vì công dưỡng dục, Nuốt sắt nóng thấu ruột thấu gan, Làm cho thân thể tiêu tan, Đến trăm ngàn kiếp thâm ân chưa đền. Nghe Phật nói thảy điều kinh hãi, Giọt lệ tràn khó nỗi cầm ngăn, Đồng thinh bạch Phật lời rằng Làm sao trả đặng ân thâm song đường! Phật mới bảo các hàng Phật tử, Phải lắng nghe Ta chỉ sau này, Các người muốn đáp ơn dày, Phải toan biên chép Kinh đây lưu truyền. Vì cha mẹ trì chuyên phúng tụng Cùng ăn năn nhũng tội lỗi xưa, Cúng dường Tam Bảo sớm trưa, Cùng là tu phước chẳng chừa món chi. Rằm tháng Bảy đến kỳ Tự Tứ, Thập phương Tăng đều dự lễ này, Sắm sanh lễ vật đủ đầy, Chờ giờ câu hội đặt bày cúng dâng. Đặng cầu nguyện song đường trường thọ, Hoặc sanh về Tịnh độ an nhàn, ấy là báo đáp thù ân, Sanh thành dưỡng dục song thân của mình. Mình còn phải cần chuyên trì giới, Pháp Tam quy Ngũ giới giữ gìn, Những lời Ta dạy đinh ninh, Khá nên y thử phụng hành đừng sai Được như vậy mới là khỏi tội, Bằng chẳng thì ngục tối phải sa, Trong năm đại tội kể ra, Bất hiếu thứ nhứt, thật là trọng thay. Sau khi chết bị đày vào ngục Ngũ Vô Gián, cũng gọi A Tỳ, Ngục này trong núi Thiết Vi, Vách phên bằng sắt vây quanh bốn bề. Trong ngục này hàng ngày lửa cháy, Đốt tội nhơn hết thảy thành than, Có lò nấu sắt cho tan, Rót vào trong miệng tội nhơn hành hình. Một vá đủ cho người thọ khổ, Lột thịt da đau thấu tâm can, Lại có chó sắt, rắn gang, Phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhơn. Ở trong ngục có giường bằng sắt, Bắt tội nhơn nằm khắp đó xong, Rồi cho một ngọn lửa hồng Nuongs quay chúng nó da phồng thịt thau. Móc bằng sắt, thương đao, gươm giáo, Trên không trung đổ tháo như mưa, Gặp ai chém nấy chẳng chừa, Làm cho thân thể nát nhừ như tương. Những hình phạt vô phương kể hết, Mỗi ngục đều có cách trị riêng, Như là xe sắt phân thây, Chim ưng mổ bụng, trâu cày lưỡi le. Chớ chi đặng chết liền rất đỡ, Vì nghiệp duyên không nỡ hành thân, Ngày đêm chết sống muôn lần. Đến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây. Sự hành phạt tại A Tỳ ngục, Rất nặng nề ngỗ nghịch song thân Chúng ngươi đều phải ân cần, Thừa hành các việc phân trần khoản trên. Nhứt là phải kinh này in chép, Truyền bá ra cho khắp Đông Tây Như ai chép một quyển này, Ví bằng đặng thấy một vì Thế Tôn Nếu in đặng ngàn muôn quyển ấy, Thì cũng bằng thấy Phật vạn thiên Do theo nguyện lực tùy duyên, Chư Phật ủng hộ y như sở nguyền Cha mẹ đặng xa miền khóc lãnh. Lại hóa sanh về cảnh thiên cung, Khi lời Phật giảng vừa xong, Khắp trong tử chúng một lòng kính vâng. Lại phát nguyện thà thân này nát, Ra tro bụi, muôn kiếp chẳng nài, Dẫu cho lưỡi kéo trâu cày, Đến trăm ngàn kiếp lời Thầy không quên. Ví như bị bá thiên đao kiếm. Khắp thân này đâm chém phân thây, Hoặc như lưới trói thân này, Trải trăm ngàn kiếp lời Thầy chẳng sai. Dẫu thân này bị cưa, bị chặt, Phân chia ra muôn đoạn rã rời, Đến trăm ngàn kiếp như vầy, Chúng con cũng chẳng trái lời Thầy khuyên. Đức A Nan kiền thiền đảnh lễ, Cầu Thế Tôn đặt để hiệu Kinh, Ngày sau truyền bá chúng sanh, Dễ bề phúng tụng, trì chuyên tu hành. Phật mới bảo A Nan nên biết, Quyển Kinh này quả thiệt cao xa, Đặt tên “BÁO HIẾU MẸ CHA”, Cùng là “ÂN TRỌNG” thiệt là chơn Kinh. Các ngươi phải giữ gìn chu đáo, Đặng đời sau y giáo phụng hành, Sau khi Phật dạy đành rành, Bốn hàng Phật tử rất mừng, rất vui. Thảy một lòng vâng theo lời Phật, Và kính thành tin chắc vẹn tuyền, Đồng nhau tựu tại Phật tiền, Nhứt tâm đảnh lễ rồi liền lui ra. NAM MÔ ĐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN BỒ TÁT 3 lần Bình luận Trong cuốn sách nổi tiếng “Đàn ông sao Hỏa, đàn bà sao Kim” có nói rằng đàn ông và phụ nữ là hai mảnh ghép tuyệt vời nhất của tạo hóa. Tuy nhiên họ có những sự đối lập nhất định. Khác biệt là yếu tố gắn kết nhưng cũng đồng thời là nguyên nhân chia rẽ một mối quan hệ. Hiểu được nó chính là cách để đối phương trở nên thấu hiểu nhau hơn. Vậy còn trong quá khứ thì sao? Câu ca dao “đàn ông nông nổi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu” mang ý nghĩa gì? Phải chăng sự khác biệt đã trở thành yếu tố trọng nam khinh nữ? Hãy cùng đọc bài viết sau đây! “Trọng nam khinh nữ” vốn đã có từ thời cha ông ta. Trong xã hội phong kiến, vai trò của người đàn ông thường được đánh giá cao hơn, đàn ông là người nắm giữ quyền hành về mọi mặt trong gia đình. Có câu “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” ý nói một con trai hơn mười con gái. Theo đó các gia đình hay dòng họ xưa đều coi trọng việc sinh con trai nối dõi, và cho đến ngày nay tư tưởng này vẫn còn tồn tại. Bị ảnh hưởng sâu sắc bởi Nho giáo, họ cho rằng đàn ông dẫu nông nổi nhưng là cái nông nổi làm nên nghiệp lớn còn đàn bà chỉ tuy sâu sắc nhưng chỉ như chiếc cơi đựng trầu nông hẹp. Ý nghĩa của thành ngữ Nghĩa đen Giếng khơi nơi phục vụ lấy nước, được đào sâu vào lòng đất, rộng về bề ngang, xung quanh được xây thành bờ vững chãiCơi đựng trầu đồ dùng để đựng trầu cau, hình dạng giống như một chiếc khay nhỏ, có đáy nông và phía bên trên có nắp đậy Giếng là cách nói ẩn dụ cho người đàn ông có chí hướng, sâu sắc và có thể làm nên nghiệp lớn nhưng ở đây lại đi với từ “nông nổi”. Cơi đựng trầu ví như tấm lòng của người đàn bà, nông cạn nhưng lại sử dụng từ “sâu sắc”. Ở đây câu tục ngữ thể hiện sự mỉa mai châm biếm của người xưa đối với xã hội chứa đựng những bất công trọng nam khinh nữ. Nghĩa bóng Câu nói “đàn ông nông nổi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu” được sử dụng phổ biến trong xã hội xưa với ý nghĩa châm chọc, mỉa mai, hàm ý của sự trọng nam khinh nữ. Cách nhìn nhận đàn ông dù có nông nổi thì vẫn luôn chững chạc và sâu sắc hơn đàn bà về thực tế là một quan điểm lạc hậu, lỗi thời và đặt ra nhiều mâu thuẫn trong thời đại hiện nay. Tuy nhiên cũng có thể hiểu câu tục ngữ này theo nghĩa tích cực. Giếng khơi được ví như là một “ báu vật” quý giá của làng quê Việt Nam xưa. Giếng khơi xuất hiện trong nhiều bài ca dao tục ngữ xưa cùng với cây đa, mái đình, là biểu tượng của những giá trị văn hóa tốt đẹp “Cây đa, bến nước, sân đình, Đi xa ta nhớ nghĩa mình mình ơi. ” Ví von người đàn ông như giếng khơi là muốn nhấn mạnh vai trò của họ, là người phóng khoáng, tốt bụng, luôn giúp đỡ mọi người mà không cầu danh lợi. Còn cơi trầu tuy nhỏ bé nhưng cũng chứa đựng những bản sắc rất riêng của văn hóa Việt Nam. Người xưa quan niệm người phụ nữ đẹp là người có “môi đỏ, răng đen” nên các cụ thường hay nhai trầu. “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, nhà ai cưới hỏi cũng không thể thiếu đi món đặc sản truyền thống này. Tuy nhiên cơi đựng trầu không phải nhà nào cũng có, nhất là loại có hoa văn, được trang trí một cách bắt mắt, nhà nào có của ăn của để mới có được mà thôi. Vì vậy ví người phụ nữ như cơi đựng trầu muốn chỉ ra sự tháo vát, tài giỏi, nét đẹp của họ. “Đàn ông nông nổi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu” trong đời sống hiện tại Cuộc sống hiện đại đã thay đổi rất nhiều so với thời xa xưa. Cùng với sự tiến bộ của lịch sử văn minh loài người, thì những quan niệm cũ đương nhiên sẽ không còn phù hợp. Quan niệm cũ chỉ hợp lý khi được đặt trong bối cảnh nó thuộc về. Vậy chúng ta cũng không nên áp dụng cách lý giải theo cách phân biệt đối xử giữa đàn ông và phụ nữ. Nhưng cũng không có nghĩa là bác bỏ câu tục ngữ vì nó thuộc về kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam, nó đã tồn tại và chứa đựng những dấu ấn văn hóa dân tộc. Câu nói này vẫn có thể được sử dụng trong xã hội thời nay, tuy nhiên chúng ta nên hiểu theo hướng tích cực, tránh làm tổn thương người khác bằng ý nghĩa tiêu cực. Thêm vào đó, dù là giếng khơi hay cơi đựng trầu thì cũng chưa thể bộc lộ được hết những phẩm chất tốt đẹp của con người. Để hiểu được một người khác chúng ta cần phải có quá trình tiếp xúc dài lâu, sẻ chia, đồng cảm. Hãy chấp nhận, trân trọng và yêu thương thay vì so đo giữa đàn ông với đàn bà, giữa nam và nữ. Trên đây là những lý giải về câu tục ngữ “đàn ông nông cạn giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”. Hy vọng bài viết sẽ giúp bạn có được cách nhìn nhận thực tế và sâu sắc hơn để tránh vận dụng một cách sai lệch. Hãy cân nhắc thật kĩ khi áp dụng câu nói này trong các mối quan hệ xã hội của bạn, vì nếu sử dụng không đúng thời điểm sẽ khiến người khác tổn thương. Và phần nào hiểu hơn về giá trị văn hóa tốt đẹp của con người Việt Nam xưa. Một đứa trẻ khi được hỏi “cha và mẹ, con thương ai nhiều hơn?”, thường thì nó sẽ trả lời, “thương bằng nhau”. Nói về công lao của cha - mẹ, ca dao cũng không phân chia ít nhiều “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Thế nhưng, lễ Vu lan tháng 7 âm lịch hàng năm, ngày tôn vinh hiếu đạo của người Việt qua tích Mục Kiền Liên cứu mẹ, người ta lại nhắc về công lao của mẹ nhiều hơn! Hoa hồng mùa Vu lan. Ảnh minh họa Internet Có lẽ, đó là vì ơn sâu của mẹ 9 tháng cưu mang, mang nặng đẻ đau tạo ra hình hài đứa con yêu dấu. “Đàn ông xương trắng nặng quằn/ Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn/ Người có biết cớ sao đen nhẹ?/ Bởi đàn bà sinh đẻ mà ra/ Sanh con ba đấu huyết ra/ Tám hộc bốn đấu sữa hòa nuôi con/ Vì cớ ấy hao mòn thân thể/ Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai”. Một đoạn kinh Vu lan báo hiếu đã thuyết giảng như thế! Thâm ân của mẹ đã khắc vào trong tận xương cốt. Ơn dưỡng dục sinh thành là của song thân nhưng rõ ràng, một thân vẫn nặng hơn thân kia. Ơn của mẹ là ơn mang nặng đẻ đau, là đã chia cho con một phần máu thịt, chịu bao đau đớn, nhọc nhằn, thậm chí mỗi lần “đi biển mồ côi một mình” là một lần đối mặt với tử thần. Có những người mẹ sẵn sàng chấp nhận cái chết để giữ được tính mạng của con. Thỉnh thoảng trên trang báo chúng ta lại nhìn thấy nụ cười ấm áp trìu mến của mẹ khi nhìn đứa con mở mắt chào đời sau bao đớn đau mẹ chịu đựng vì bị bệnh hiểm nghèo, để rồi sau đó mẹ nhắm mắt xuôi tay! Những hình ảnh ấy đầy tính nhân văn, thiêng liêng vô bờ tình mẫu tử. Nếu mẹ yêu con bằng những cưu mang, hoạn dưỡng thì cha thương con bằng những nhọc nhằn cả đời bươn chải để chăm lo cho mái ấm gia đình. Mẹ thương con bằng sự chở che, đến mức nuông chìu thì cha thương con bằng thái độ mạnh mẽ để con biết tự vươn lên sau khi vấp ngã. Mẹ thương con bằng những hỏi han, lo lắng khi con vắng nhà, thì cha thương con bằng những đường cày sâu, cuốc bẩm, bằng tấm áo đẫm mồ hôi để kiếm tiền gửi con ăn học… Không ai có thể phủ nhận công lao như ngọn Thái Sơn của cha bên cạnh suối nguồn lai láng của mẹ. Nhưng, đúng như kinh Phật nhắc mẹ thương con bằng chính sự sẻ chia máu huyết của mình từ khi con mới tượng hình. Mẹ vất vả 9 tháng 10 ngày mang thai, chịu những cơn hành từ khi mang thai cho đến nỗi đớn đau “banh da xẻ thịt” để hạ sinh đứa con. Thâu đêm suốt sáng chăm con, thân xác héo mòn không quản ngại… Tất cả những hy sinh về thân xác đó không có ai có thể thay người mẹ! Không hiểu vì sao ngày nay lại có những bà mẹ vứt con? Thỉnh thoảng lại phát hiện những thai nhi bị bỏ rơi trước cổng chùa, trước trại trẻ mồ côi, đau lòng và đáng lên án hơn là những thai nhi còn nguyên cuốn rốn bị gói vào túi nylon vứt ngoài đường, vứt gần thùng rác, thậm chí là bỏ từ trên nhà cao tầng xuống, có đứa còn bị kiến, ruồi bâu, cắn… Những thai nhi vô tội ấy là bản án lương tâm cực kỳ đắt giá mà những người mẹ vứt con đeo mang suốt một đời. Không có một hoàn cảnh nào có thể đem ra để biện hộ cho sự băng hoại đạo đức đó của rất ít người mẹ không đáng là mẹ! Tình mẫu tử là thiêng liêng nhất trong mọi tình cảm con người. Có một câu ngắn gọn mà dường như rất nhiều người con vẫn chưa nói với mẹ khi mẹ mình còn sống, đơn giản chỉ là “con cảm ơn mẹ!”. Ta có thể mang ơn, nói lời cảm ơn với… cả thế giới, tại sao với người tạo ra mình, ta lại vô tâm? Hãy nói khi còn mẹ ở trên đời, khi trên ngực áo vẫn còn được cài cành hoa hồng đỏ thắm trong mùa Vu lan. Nhật Quỳnh Kinh Vu Lan Báo Hiếu - Thích Trí Thoát Ta Từng Nghe Lời Tạc Như Vậy Một thuở nọ Thế Tôn an trụ Xá Vệ Thành Kỳ Thụ Viên trung Chư Tăng câu hội rất đông Tính ra đến số hai muôn tám ngàn Lại cũng có các hàng Bồ Tát Hội tại đây đủ mặt thường thường Bấy giờ Phật lại lên đường Cùng hàng đại chúng nam phương tiến hành Đáo bán lộ đành rành mắt thấy Núi xương khô bỏ đấy lâu đời Thế Tôn bèn vội đến nơi Lạy liền ba lạy, rồi rơi giọt hồng Đức A Nan trong lòng ái ngại Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương Vội vàng xin Phật dạy tường Thầy là Từ Phụ ba phương bốn loài Ai ai cũng kính Thầy dường ấy Cớ sao thầy lại lạy xương khô Phật rằng trong các môn đồ Người là đệ tử đứng đầu dày công Bởi chưa biết đục trong chưa rõ Nên vì người ta tỏ đuôi đầu Đống xương dồn dập bấy lâu Cho nên trong đó biết bao cốt hài Chắc cũng có ông bà cha mẹ Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sanh Luân hồi sanh tử, tử sanh Lục thân đời trước, thi hài còn đây Ta lễ bái những người tiền bối Và ngậm ngùi vì nhớ kiếp xưa Đống xương hỗn tạp chẳng vừa Không phân trai gái bỏ bừa khó coi Người chịu khó xét soi cho kỹ Phân làm hai, bên nữ bên nam Để cho phân biệt cốt phàm Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng Đức A Nan trong lòng tha thiết Biết làm sao phân biệt khỏi sai Ngài bèn xin Phật tỏ bày Vì khó chọn lựa gái trai lúc này Còn sanh tiền dễ bề sắp đặt Cách đứng đi ăn mặc phân minh Chớ khi rã xác tiêu hình Xương ai như nấy, khó nhìn khó phân Phật mới bảo A Nan nên biết Xương nữ nam phân biệt rõ ràng Đàn ông xương trắng nặng quằn Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn Người có biết cớ sao đen nhẹ? Bởi đàn bà sanh đẻ mà ra Sanh con ba đấu huyết ra Tám hộc bốn đấu sữa hòa nuôi con Vì cớ ấy hao mòn thân thể Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai A Nan nghe vậy bi ai Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sanh Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo Phương pháp nào báo hiếu song thân Thế Tôn mới bảo lời rằng Vì ngươi ta sẽ phân trần khá nghe Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc Sanh đặng con mười tháng cưu mang Tháng đầu, thai đậu tợ sương Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường Tháng thứ nhì dường như sữa đặc Tháng thứ ba như cục huyết ngưng Bốn tháng đã tượng ra hình Năm tháng ngũ thể hiện sanh rõ ràng Tháng thứ sáu lục căn đều đủ Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương Lại thêm đủ lỗ chân lông Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ Chín tháng thì đầy đủ vóc hình Mười tháng là đúng kỳ sanh Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu Nó vẫy vùng đạp quấu lung tung Làm cho cha mẹ hãi hùng Sự đau sự khổ không cùng tỏ phân Khi sanh đặng muôn phần khoái lạc Cũng ví như được bạc được vàng Thế Tôn lại bảo A Nan Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin Điều thứ nhất giữ gìn thai giáo Mười tháng trường chu đáo mọi bề Thứ hai sanh đẻ gớm ghê Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần Điều thứ ba, thâm ân nuôi dưỡng Cực đến đâu bền vững chẳng lay Thứ tư ăn đắng nuốt cay Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con Điều thứ năm lại còn khi ngủ Ướt mẹ nằm, khô ráo phần con Thứ sáu, sú nước nhai cơm Miễn con no ấm chẳng màng gớm ghê Điều thứ bảy không chê ô uế Giặt đồ dơ của trẻ không phiền Thứ tám chẳng nỡ chia riêng Nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo Điều thứ chín miễn con sung sướng Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam Tính sao có lợi thì làm Chẳng màng tội lỗi, bị giam bị cầm Điều thứ mười chẳng ham chau chuốt Dành cho con các cuộc thanh nhàn Thương con như ngọc như vàng Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn! Phật lại bảo A Nan nên biết Trong chúng sanh tuy thiệt phẩm người Mười phần mê muội cả mười Không tường ơn trọng đức dày song thân Chẳng kính mến, quên ơn, trái đức Không xót thương dưỡng dục cù lao Ấy là bất hiếu mạc dao Thì những người ấy đời nào nên thân Mẹ sanh con cưu mang mười tháng Cực khổ dường gánh nặng trên vai Uống ăn chẳng đặng vì thai Cho nên thân thể hình hài kém suy Khi sanh sản hiểm nguy chi xiết Sanh đặng rồi tinh huyết đầm đề Ví như thọc huyết trâu dê Nhất sanh thập tử nhiều bề gian nan Con còn nhỏ phải năng chăm sóc Ăn đắng cay bùi ngọt phần con Phải tắm, phải giặt, rửa trôn Biết rằng dơ dáy mẹ không ngại gì Nằm phía ướt con nằm phía ráo Sợ cho con ướt áo, ướt chăn Hoặc khi ghẻ chóc đầy mình Chắc còn phải chịu trăm phần thảm thương Trọn ba năm bú nương sữa mẹ Thân gầy mòn nào nệ với con Đến khi vừa được lớn khôn Mẹ cha dạy bảo cho con vỡ lòng Cho đi học mở thông trí tuệ Dựng vợ chồng có thể làm ăn Ước mong con được nên thân Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi Con ốm đau tức thì lo chạy Dầu tốn hao cách mấy cũng đành Khi con căn bệnh đặng lành Thì cha mẹ mới an tâm định thần Công dưỡng dục sánh bằng non biển Cớ sao con chẳng biết ơn này Hoặc khi lầm lỗi bị rầy Chẳng tuân thì chớ lại bày ngỗ ngang Hờn cha mẹ phùng mang trợn mắt Khinh trưởng huynh nộ nạt thê nhi Bà con chẳng kể ra chi Không tuân sư phụ lễ nghi chẳng tường Lời dạy bảo song đường không kể Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng Trái ngang chóng báng mọi đàng Ra vào lui tới mắng càn người trên Vì lỗ mãng tánh quen làm bướng Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn Lớn lên theo lối hung hăng Đã không nhẫn nhịn lại càng hành hung Bỏ bạn lành theo cùng chúng dữ

đàn ông xương trắng nặng quằn